Vi diệu pháp khái lược

Đây là phần mình ghi chép lại trong lớp học Vi diệu pháp khái lược. Mình ghi phần cuối, phần đầu được ghi trong mind map.

Sở hữu bất định và nhất định

Trong 52 sở hữu, có 11 sở hữu bất định, còn lại là 41 sở hữu nhất định.

Các sở hữu bất định:

Các sở hữu biến hành luôn luôn là nhất định (luôn có trong tất cả các tâm). Ngoài ra còn có 6 sở hữu biệt cảnh là sở hữu nhất định.

Tương quan giữa tâm và sở hữu

Sở hữu tương ưng với tâm

7 sở hữu biến hành có mặt trong 121 tâm.

Sở hữu biệt cảnh tương ưng với tâm

Luôn trừ 10 tâm ngũ song thức vì các tâm này chỉ có 7 sở hữu biến hành, không có sở hữu nào khác.

Tầm

Có trong 55 tâm:

Tứ

Giống tầm, nhưng cộng thêm 11 tâm nhị thiền = 66 tâm.

Thắng giải

121 tâm - ngũ song thức - si hoài nghi = 110 tâm.

Cần

121 tâm - ngũ song thức - khai ngũ môn - 2 tâm tiếp thâu - 3 tâm quan sát = 105 tâm.

Hỷ

51 tâm thọ hỷ - 11 tâm tứ thiền (tứ thiền có thọ hỷ nhưng không có sở hữu hỷ) = 40 tâm.

Dục

121 tâm - 18 tâm vô nhân - 2 tâm si = 101 tâm.

Sở hữu bất thiện

Chỉ đi với nhóm tâm bất thiện.

Si phần (bất thiện biến hành)

Si, vô tàm, vô úy, phóng dật: có mặt trong tất cả 12 tâm bất thiện.

Tham phần

Sân phần

Hôn phần

Hôn trầm, thụy miên: luôn luôn đi chung với nhau. Hôn trầm là trạng thái tâm lười biếng, làm tâm thụ động. Thụy miên khiến cho thân thể chìm vào giấc ngủ.

Cả 2 chỉ có thể có mặt trong các tâm hữu trợ bất thiện: 4 tâm tham hữu trợ và 1 tâm sân hữu trợ. Và có mặt bất định, không phải lúc nào cũng có.

Hoài nghi

Chỉ có mặt trong tâm si hoài nghi.

Sở hữu tịnh hảo

Sở hữu tịnh hảo biến hành (19 sở hữu)

Luôn có mặt trong tất cả 91 tâm tịnh hảo.

Sở hữu tịnh hảo biệt cảnh

Giới phần

Thiền đáo đại (hiệp thế): vì các phiền não thô thiển không có, nên về khía cạnh kiêng tránh không cần. Và cũng không thể sát trừ phiền não. Do đó các sở hữu giới phần không có trong thiền đáo đại.

Do khía cạnh không làm khẩu, thân ác nghiệp, nên các sở hữu này có trong 8 tâm đại thiện.

Do đặc tính của tâm đại quả và tâm duy tác, nên cũng không có giới phần.

Trong tâm đạo siêu thế, có sát trừ phiền não nên bắt buộc phải có giới phần.

Trong tâm quả siêu thế cũng có giới phần.

Tóm lại, giới phần có mặt trong:

Vô lượng phần

Là 2 trong 4 đề mục thiền chỉ, nên có trong các tâm thiền, nhưng không có mặt trong các tâm ngũ thiền và thiền vô sắc giới.

Không có trong tâm quả dục giới, nhưng vẫn có trong tâm quả sắc giới.

Tóm lại, vô lượng phần có mặt trong:

Vô si (trí tuệ)

Luôn có mặt trong các tâm hợp trí, bao gồm:

Tâm yếu hiệp sở hữu

Nhóm 12 tâm bất thiện

Luôn có nhóm sở hữu tự tha và sở hữu bất hiện.

Ví dụ:

Nhóm tâm vô nhân

Chỉ có sở hữu 13 tự tha - sở hữu dục = 12 sở hữu tự tha.

Nhóm tâm dục giới tịnh hảo

Có 13 sở hữu tự tha + 25 sở hữu tịnh hảo = 38 sở hữu hợp.

Ví dụ:

Tập yếu hiệp (Sangaha)

Các pháp được phân loại theo các tiêu chí quan trọng.

Thọ yếu hiệp

Hỷ, ưu, xả, khổ, lạc.

Nhân yếu hiệp

Tham, sân, si, vô tham, vô sân, vô si. Vô tham, vô sân, vô si được chia làm 2: thiện và vô ký.

Sự yếu hiệp (kiccasangaha)

Sự = việc làm, ở đây là phân loại tâm theo việc làm của tâm.

Có 14 sự (kicca, việc làm):

  1. Việc tục sinh: tâm đầu tiên bắt đầu 1 kiếp sống mới. Luôn là tâm quả của các tâm thiện, bất thiện trong đời quá khứ. Có 19 tâm làm việc tục sinh:
    • 2 tâm quan sát xả thọ (vô nhân)
    • 8 tâm đại quả (hợp trí gọi là tam nhân, ly trí gọi là nhị nhân)
    • 9 tâm quả đáo đại: 5 tâm quả sắc giới, 4 tâm quả vô sắc giới (đều là tam nhân)
  2. Việc hộ kiếp (bhavanga) hay hữu phần: tâm duy trì kiếp sống, duy trì dòng tâm thức không bị gián đoạn. Khi 1 chúng sinh bắt đầu kiếp sống mới, tâm đầu tiên là tâm tái tục, tâm thứ 2 trở đi gọi là tâm hộ kiếp, tâm cuối cùng của đời sống gọi là tâm tử. Tâm tái tục, tâm hộ kiếp và tâm tử cùng 1 loại tâm, do đó tâm nào làm việc tục sinh, tâm đó làm luôn việc hộ kiếp. Biểu hiện: khi tâm không bắt cảnh bên ngoài, như lúc hôn mê, ngủ không chiêm bao. Trong đời sống thường ngày thì do tâm bắt cảnh nhanh nên không nhận thấy tâm hộ kiếp.
  3. Việc tử: tâm cuối cùng của kiếp sống, cùng loại với tâm hộ kiếp và tục sinh.
  4. Khai môn: 2 tâm: khai ngũ môn và khai ý môn.
  5. Việc thấy: 2 nhãn thức
  6. Việc nghe: 2 nhĩ thức
  7. Việc ngửi: 2 tỷ thức
  8. Việc nếm: 2 thiệt thức
  9. Việc xúc chạm: 2 thân thức
  10. Việc tiếp thâu
  11. Việc quan sát
  12. Đoán định: khai ý môn
  13. Đổng lực: xử lý. Thiện, bất thiện là do giai đoạn này xử lý.
  14. Na cảnh (dư cảnh): việc làm do còn ảnh hưởng của tâm đổng lực do xử lý việc làm còn sót lại.

Môn (dvara)

Môn = cửa, thông qua đó mà tâm biết cảnh. Ví thân như căn nhà, tiếp xúc với cảnh qua 6 cửa (6 căn):

  1. Nhãn môn
  2. Nhĩ môn
  3. Tỷ môn
  4. Thiệt môn
  5. Thân môn
  6. Ý môn: chỉ cho tất cả các nhận biết không thông qua 5 giác quan trên.

Vật (vatthu)

Vật là nơi tâm nương.

  1. Nhãn vật: thần kinh nhãn
  2. Nhĩ vật: thần kinh nhĩ
  3. Tỷ vật: thần kinh tỷ
  4. Thiệt vật: thần kinh thiệt
  5. Thân vật: thần kinh thân
  6. Ý vật (hadayavatthu): thành phần vật chất trong thân mà tâm nương gá.

Phân biệt môn và vật: VD tâm sân có thể sinh thông qua nhãn môn, nhĩ môn, …, nhưng nó chỉ nương trên ý vật.

Cảnh (arammana hoặc alambana)

Là đối tượng mà tâm biết.

Phân loại hẹp thì có 6 cảnh:

  1. Sắc
  2. Thanh
  3. Khí
  4. Vị
  5. Xúc
  6. Pháp: chỉ các cảnh không thuộc 5 nhóm trên, bao gồm cả các cảnh trước đó đã thấy nhưng giờ nhớ lại hoặc không còn.

Phân loại rộng thì có 21 cảnh (theo tên gọi):

31 cõi

11 cõi dục giới

4 cõi khổ

7 cõi vui

16 cõi sắc giới

Tất cả chúng sinh trong các cõi này được tục sinh bằng các tâm quả sắc giới.

3 cõi sơ thiền

Các chúng sinh trong cõi sắc giới và vô sắc giới gọi là Phạm Thiên, để phân biệt với Chư Thiên. Chúng sinh Phạm Thiên thanh tịnh hơn:

Gồm 3 cõi:

  1. Phạm Chúng Thiên: có vai trò đồ chúng
  2. Phạm Phụ Thiên: có vai trò phụ tá
  3. Đại Phạm Thiên: có vai trò lãnh đạo

Tuy chia làm 3 nhưng không gian sống là 1 và phụ thuộc vào công đức.

3 cõi nhị thiền (nhị, tam)

Phân chia bằng khả năng thiền định, thể hiện ra bên ngoài bằng hào quang:

  1. Thiểu Quang Thiên: hào quang ít
  2. Vô Lượng Quang Thiên: hào quang không giới hạn
  3. Quang Âm Thiên: hào quang chẳng những không giới hạn mà còn xinh đẹp hơn

(Tìm đọc sách “Chúng sanh và sanh thú”)

3 cõi tam thiền (tứ)

  1. Thiểu Tịnh Thiên
  2. Vô Lượng Tịnh Thiên
  3. Biến Tịnh Thiên

7 cõi tứ thiền (ngũ)

  1. Quảng Quả
  2. Vô Tưởng: dành cho các vị nhàm chán tâm:
    • Các vị thánh vô học (A Lán Hán) chứng ngũ thiền sẽ nhập Niết Bàn
    • Các vị thánh hữu học (sơ, nhị) sẽ không chọn cõi này do cõi này không còn tâm
    • Các vị phàm phu chứng ngũ thiền và nhàm chán tâm

Các vị thánh tam quả chứng ngũ thiền thì sinh vào 5 cõi Ngũ Tịnh Cư, tùy theo ngũ căn (tín, tấn, niệm, định, tuệ):

  1. Vô Phiền Thiên (tín)
  2. Vô Nhiệt (tấn)
  3. Thiện Kiến (niệm)
  4. Thiện Hiện (định)
  5. Sắc Cứu Cánh (tuệ)

Các cõi Ngũ Tịnh Cư chỉ có 3 hạng người:

4 cõi vô sắc

Không có hình sức (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân). Do đó các vị Phạm Thiên phải tự tu tập mà không học hỏi từ người khác được. Do đó các vị Bồ Tát không muốn sinh về các cõi này.

Chỉ có 7 hạng thánh, không có sơ đạo.

Lộ trình tâm (citta vithi)

Khana = sát na, là đơn vị thời gian cực nhỏ, chi cho thời gian tồn tại của 1 tâm khi nó sanh lên. Ví dụ 1 nháy mắt đủ cho tâm sanh diệt hàng tỉ lần. Tâm sanh diệt liên tục, không bao giờ có 2 tâm sanh cùng 1 lúc. Các tâm sanh lên với thời gian giống nhau và tồn tại trong 3 giai đoạn: sinh, trụ, diệt.

Các khoảng thời gian trong kiếp người: tục sinh, bình nhật, tử.

Bình nhật (hộ kiếp, hữu phần = Bhavanga):

Cảnh cận tử:

Tâm tục sinh: 19 tâm quả (2 tâm quả quan sát thọ xả, 8 tâm quả đại thiện, 9 tâm quả đáo đại). Tâm hữu phần, tâm tử, tâm tục sinh là cùng 1 loại. Tâm hộ kiếp bắt cảnh rất mờ nhạt. VD khi ngủ, sau khi dậy thì không nhớ.

12 hạng người phân theo 19 tâm tục sinh:

Nếu tục sinh bằng tâm ly trí (không phải tam nhân) thì trong 3 khoảng thời gian này thì các tâm chủ quan không có trí. Chỉ khi có tâm khách quan tác động vào thì có trí. Chỉ có người tam nhân thì luôn có tâm hợp trí. Do đó người tam nhân mới chứng thiền và đạt đạo quả.

Khi gặp cảnh, tâm hộ kiếp gián đoạn và nhường cho các tâm khác sanh lên (nhãn thức, nhĩ thức, tham, sân, si, …). Khi các tâm đó dừng lại thì tâm hộ kiếp tiếp tục sinh.

Có 6 lộ tâm theo 6 môn: nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý. Tâm sinh theo môn nào thì thuộc về lộ đó. Hoặc chia làm 2:

Lộ ngũ môn

  1. Nhãn môn
  2. Nhĩ môn
  3. Tỷ môn
  4. Thiệt môn
  5. Thân môn

Do 5 môn này tiến trình sinh diệt giống nhau nên được gộp chung lại.

Có 4 cảnh chia theo độ mạnh yếu:

Lớn nhỏ không phải là về kích thước, mà lớn nhỏ chi cho cường độ, mức độ mạnh yếu khi tâm nhận biết cảnh (dễ dàng, khó hay không thấy).

Khi cảnh lớn tác động vào thì tâm hữu phần dao động 2 lần và có 3 tâm (cùng loại hữu phần) sanh lên:

Lộ nhãn môn cảnh rất lớn: gồm 17 sát na:

[V-R-D]-[K5-NT-TT-QS-ĐĐ]-[7ĐL]-[2NC]

Tâm hộ kiếp khách:

Đôi khi kể làm 3 điều kiện, khi đó gom 1 + 2 và gọi là tục sinh bằng tâm quả dục giới thọ hỷ.

Khi tục sinh bằng tâm quả thọ hỷ, thì tâm hộ kiếp bình nhật là thọ hỷ. Theo quy luật tâm pháp thọ ưu và thọ hỷ không thể gần kề nhau, mà giữa đó phải có tâm thọ xả. Nên nếu tâm đổng lực là tâm sân thọ ưu thì tâm na cảnh ngay sau đó không thể thọ ưu hay hỷ mà phải là tâm hộ kiếp xả, có vai trò làm trung gian cho thọ ưu và thọ hỷ. Trong trường hợp đó gọi là tâm hộ kiếp khách. Lưu ý tâm sân không có ở sắc giới và vô sắc giới.

2 lộ tâm không thể liên tục với nhau được. Giữa 2 lộ tâm phải có tâm hộ kiếp ở giữa.

Lộ ngũ môn cảnh lớn: tương tự cảnh rất lớn, chỉ khác là:

[2V-R-D]-[K5-NT-TT-QS-ĐĐ]-[7ĐL]-[NC]

[3V-R-D]-[K5-NT-TT-QS-ĐĐ]-[7ĐL]

Lộ ngũ môn cảnh nhỏ: không có tâm đổng lực, do đó không có khả năng tạo nghiệp. Có 6 trường hợp, tính theo số lần sanh tâm vừa qua nhiều dần lên (từ 4 tới 9 sát na), tâm na cảnh ít dần đi.

Lộ ngũ môn cảnh rất nhỏ: hoàn toàn không có tâm khách quan.

Tính theo các cõi, thì lộ ngũ môn:

Các sát na tâm được gọi tên theo:

Học thì cố gắng phân biệt được: môn, vật, cảnh, người, cõi.

Các lộ tâm chia làm 2:

Lộ ngũ môn cận tử: chỉ có 2 cảnh rất lớn và lớn.

Cảnh rất lớn:

[V-R-D]-[K5-NT-TT-QS-ĐĐ]-[5ĐL]-[2NC]-[HP-Tử]—[Tục sinh]

[V-R-D]-[K5-NT-TT-QS-ĐĐ]-[5ĐL]-[2NC]-[Tử]—[Tục sinh]

Cảnh lớn:

[2V-R-D]-[K5-NT-TT-QS-ĐĐ]-[5ĐL]-[HP-Tử]—[Tục sinh]

[V–VR-D]-[K5-NT-TT-QS-ĐĐ]-[5ĐL]-[Tử]—[Tục sinh]

Sau tâm tục sinh là liên tục 14 sát na tâm hộ kiếp. Sau đó lộ tâm đầu tiên là lộ ý: V-R-D, sau đó là khai ý môn, rồi đến 7 tâm đổng lực là tâm tham, do chúng sinh vẫn còn tâm tham.

[2V-R-D]-[K5-NT-TT-QS-ĐĐ]-[5ĐL]-[HP-Tử]—[Tục sinh]-[14H]-[V-R-D]-[KY]-[7ĐL tham]-[H]—Lộ tâm tiếp

Như vậy sau lộ ngũ môn cận tử luôn luôn là lộ ý môn. Lộ ý môn là lộ đầu tiên của kiếp sống.

Lộ ý môn

Cảnh biết không thông qua ngũ môn thì thuộc về ý môn.

Có 2 trường hợp:

Chia theo cường độ cảnh:

  1. Cảnh rất rõ
  2. Cảnh rõ
  3. Cảnh không rõ
  4. Cảnh cực vi

Chỉ trường hợp 1 và 2 mới khởi lên tâm động lực, trong 2 trường hợp sau thì tác động của cảnh yếu nên không đủ để khởi lên tâm động lực. Cảnh cực vi còn không đủ khởi lên tâm khách quan mà chỉ có tâm hộ kiếp.

Lộ ý phức tạp hơn lộ ngũ do cảnh của lộ ngũ là sắc pháp, vốn không phức tạp bằng cảnh ý.

Lộ ý được chia làm 2:

  1. Lộ ý thông thường
  2. Lộ ý đặc biệt (lộ ý kiên cố): chỉ những trường hợp mà tâm đổng lực sanh lên 1 cách nhất định mà không phải bất định: của 1 vị chứng thiền, chứng đạo quả, nhập quả, nhập Niết Bàn, …

Lộ ý thông thường

Được chia làm 2:

Lộ ý bình nhật thông thường

Cảnh rất rõ:

[R-D]-[KY]-[7ĐL]-[2NC]-HP

Tâm khai ý môn còn làm việc đoán định.

Cảnh rõ:

[R-D]-[KY]-[7ĐL]-[2HP]

Trong lộ ý, tâm hữu phần vừa qua chỉ sinh khi cảnh đó là từ cảnh ngũ (VD đang nhớ lại cảnh đã thấy, tiếng đã nghe). Trong trường hợp cảnh ý không phải từ cảnh ngũ (VD đang suy nghĩ về 1 định lý, về Tứ thánh đế, …) thì không có tâm hữu phần vừa qua.

Cảnh không rõ: kết thúc ở đoán định

[R-D]-[3KY]-[2HP]

Cảnh cực vi: chỉ có tâm hữu phần, gọi là lộ tâm hư thoát:

[R-D]-[3HP]

Lộ ý bình nhật chiêm bao

Có 4 nhân sanh:

  1. Thân sinh lý bị xáo trộn
  2. Ấn tượng sâu đậm
  3. Do phi nhân chi phối
  4. Điềm nghiệp

Các nhân sanh này đều là tâm phóng dật.

Về biểu đồ thì giống lộ ý bình nhật thông thường, nhưng chỉ khác là không tạo quả. Và không phải chúng sinh nào cũng có chiêm bao, phải có thân sinh lý phù hợp, trong 1 số cõi thì không có chiêm bao.

Lộ ý kiên cố

Bao gồm các lộ ý môn:

Lộ tâm hóa thông hay hiện thông

Là lộ trình tâm của người chứng thiền và có thần thông. Vị đó phải chứng được ngũ thiền. Tâm định của vị đó rất mạnh mẽ và có thể ảnh hưởng tới thế giới xung quanh.

[R-D]-[KY]-[2CH-TT-CT-Th]

CH: Cận hành
TT: Thuận thứ
CT: Chuyển tộc
Th: Thiền

Lộ đắc đạo

Nhờ diệt 3 phiền não, mà các vị ấy:

Lộ tâm:

Người độn căn: [R-D]-[KY]-[CB-CH-TT-CT]-[TĐ-TQ-TQ]-[HP]

Người lợi căn: [R-D]-[KY]-[CH-TT-CT]-[TĐ-TQ-TQ-TQ]-[HP]

Đối với vị chứng đạo cao, không còn sát na Chuyển tộc mà chỉ còn sát na Vodana (Dũ Tịnh - tịnh hơn)

[R-D]-[KY]-[CH-TT-DT]-[TĐ-TQ-TQ-TQ]-[HP]

Đạo quả đã chứng thì không bao giờ mất. Đối với vị nào đã chứng được đạo quả cao thì không bao giờ chứng lại đạo quả thấp.

CB: Chuẩn bị
TĐ: Tâm đạo
TQ: Tâm quả

Lộ phản khán

Ý nghĩa: xem xét lại, nhìn lại. Là lộ ý thông thường. Có 2 loại:

Lộ nhập thiền quả

5 khả năng thuần thục:

Điều kiện nhập thiền quả: phải chứng thiền hiệp thế

Lộ nhập thiền diệt (diệt thọ tưởng định)

Là lộ nhập thiền của vị thánh A na hàm hoặc A la hán. Các ngài bỏ danh pháp ngay trong đời sống hiện tại. Để làm được điều đó, các ngài phải là vị thánh tam quả hoặc tứ quả.

Gọi là diệt thọ tưởng định là vì trong khoảng thời gian nhập thiền thì giống vô tưởng, tức là không có danh pháp. Giống như giấc ngủ không chiêm bao, mộng mị là giấc ngủ ngon nhất, an lạc nhất.

Điều kiện:

Dòng tâm thức của chúng sinh chỉ bị gián đoạn khi:

Lộ tâm:

Lộ viên tịch

Là sự tịch tịnh hoàn toàn. Đối với vị thánh A la hán, sự tử là tịch diệt hoàn toàn, chấm dứt vòng luôn hồi sinh tử. Còn với chúng sinh và các vị thánh hữu học, thì khi tâm tử khởi lên, vẫn còn tiếp diễn vòng sinh tử.

Có 2 trường hợp:

Có những vị chứng thiền hiệp thế, nhưng chưa chứng thiền siêu thế. Cũng có những vị tu tập thiền quán, chỉ đắc đạo quả mà không đắc thiền định. Còn có những vị đắc cả 2 loại thiền hiệp thế và siêu thế.

Đối với các vị A la hán mà không chứng thiền hiệp thế thì các ngài chỉ Niết Bàn trong lộ ý thông thường. Đối với các vị thánh A na hàm và A la hán luôn mệnh chung ở lộ ý chứ không phải lộ ngũ. Nguyên nhân là do dục ái không còn nữa, nên không còn tác động đến các ngài trong giờ phút cuối cùng mà các ngài luôn hướng đến Niết Bàn. Riêng đối với vị A la hán, gọi là viên tịch, sau khi tâm tử khởi lên thì chấm dứt hoàn toàn sinh tử luân hồi.

Lộ cận tử thông thường có 4 trường hợp tương ứng với có/không có na cảnh và xan hữu phần:

Lộ viên tịch kiên cố, có 4 trường hợp:

Đối với các vị Chánh đẳng giác, các ngài luôn Niết Bàn bằng lộ viên tịch liên thiền. Theo thông lệ, các ngài nhập hết tất cả các tầng thiền xuôi, ngược. Trong cuộc đời của các ngài, có 2 lần nhập như vậy với tốc độ nhanh nhất là lúc các ngài chứng đạo quả và Niết Bàn. Và việc đó gây chấn động đối với những người chứng thiền.

Đối với các vị chứng thiền, thời gian giữa các lần xuất, nhập thiền là vô số sát na hữu phần. Chỉ có 4 hạng người mới có số sát na hữu phần ít nhất

Nghiệp (Kamma - Karma)

Là hành động để lại quả. Nghiệp báo được hiểu là mối tương quan giữa nhân và quả (trong vấn đề thiện ác, đạo đức).

Định nghĩa về Nghiệp được chính Đức Phật định nghĩa: Cetanaham bhikkhave kammam vadami - là chủ ý tạo tác.

Nghiệp được chia theo 3: thân, khẩu, ý. Trong đó thân, khẩu nghiệp không thể tạo quả 1 mình, mà luôn phải có ý nghiệp đi chung. Cũng có trường hợp chỉ thuần túy ý nghiệp. Ý là quan trọng nhất, quy định thiện ác cho thân và khẩu.

Nghiệp là sở hữu tư.

Nghiệp được chia có 4 phương diện:

Mãnh lực của nghiệp

Nói đến sức mạnh tạo quả của nghiệp, tức là tùy theo nghiệp đó cho quả lớn hay nhỏ, trong thời gian ngắn hay dài. Được chia làm 4 loại:

  1. Trọng nghiệp: những hành động thiện/ác cho quả lớn.
  2. Cận tử nghiệp: quả có 2: tái tục (cho cảnh giới tái sinh) và bình nhật. Cận tử nghiệp có ảnh hưởng đến tâm tái tục.
  3. Thường nghiệp: việc thiện/ác mà đã trở thành thói quen.
  4. Khinh thiểu nghiệp: việc thiện/ác cho quả rất nhỏ.

Nói đến mãnh lực của nghiệp thì nói đến 2 phương diện người hành động (sở hữu tư của người đó) và đối tượng hành động.

# Hỗn tạp Blog