Hỗn tạp Blog

Một vài ghi chép vụn vặt

Oan gia trái chủ

Thời gian vừa rồi xảy ra vụ rùm beng về chùa Ba Vàng, trong đó trọng tâm là pháp môn hóa giải nghiệp chướng của oan gia trái chủ bằng cúng tiền và làm công quả.

Bản thân mình là một người học Phật, nên sự việc xảy ra không thể không khiến mình suy nghĩ. Nhất là khi kiến thức về Phật học còn non yếu, các luồng tư tưởng tranh luận ảnh hưởng tới tâm suy nghĩ của mình và không ít khi chúng làm mình lung lay tín tâm của mình về những pháp thiện trong Phật giáo và những giáo lý của Đức Phật mà mình đã được đọc và học.

Mình nghĩ rằng đây là một cơ hội hiếm hoi và rất tốt để mình xem lại những suy nghĩ của mình, để có được một chánh kiến và chánh tư duy về vấn đề. Qua đó sẽ củng cố tín tâm và vững lòng thực tập những giáo lý chân chính.

Vì vậy, bài viết này mình viết lại những suy nghĩ mà mình thấy đúng đắn, hợp lẽ, nhằm mục đích răn dạy bản thân và nhắc nhở bản thân, vì có thể sau này bản thân mình cũng có thể quên một vài điểm quan trọng vào những lúc nào đó.

Các bước hóa giải nghiệp chướng

Theo như video và các bài báo viết, thì ở chùa Ba Vàng có các bước hóa giải nghiệp chướng như sau, mình bóc tách kỹ và phân tích từng bước để hiểu rõ vấn đề:

  1. Một người nói lên những đau khổ mà họ đang gánh chịu
  2. Bà Yến và thầy Thích Trúc Thái Minh nói rằng họ chịu đau khổ như vậy là do nghiệp của họ ở các kiếp trước
  3. Họ nói rằng có thể nhìn thấy các kiếp trước của người đó
  4. Nhờ vào thấy kiếp trước, họ thấy rằng người đó đã gây đau khổ cho một hoặc một vài chúng sinh khác
  5. Các chúng sinh này sau khi chết hóa thành vong
  6. Các vong này quay trở lại "ám" người hiện tại
  7. Để hóa giải việc đó, cần phải làm việc thiện
  8. Việc thiện họ nói cần làm là cúng dường chùa và làm công quả
  9. Việc cúng dường chùa có các mức tiền để cúng dường

Ở đây không bàn luận về những việc như có người ghen ghét, chống phá hay tiền được thu và chi tiêu như thế nào. Những việc đó không can hệ gì tới chánh pháp, mà liên quan tới luật pháp nhiều hơn.

Phân tích

Khi phân tích cụ thể ta thấy:

Bước 1: Một người nói rằng họ đang đau khổ.

Đây là sự thật họ đang gánh chịu, không có gì phi lý cả. Nó là sự thật đầu tiên trong Tứ thánh đế.

Bước 2: Lý giải về sự đau khổ đó là do nghiệp ở các kiếp trước.

Đây là một lý giải sai lầm. Trong Tứ thánh đế, Đức Phật không lý giải sự đau khổ là do nghiệp tích tụ lại trong các kiếp trước. Mà đau khổ có nguồn gốc từ tham ái, sân hận và si mê. Sâu hơn nữa thì Đức Phật có giải thích về vô minh. Đây là những nguyên nhân sâu xa và gốc rễ của sự khổ đau. Việc thực hành Phật pháp ở bước đầu chính là cố gắng nhận diện những nguyên nhân này, và sau đó là theo Bát chánh đạo để giảm thiểu và đoạn trừ chúng.

Ngoài việc lý giải sai lầm về nguyên nhân khổ đau, ở đây còn lý giải sai lầm về nghiệp. Đức Phật giảng dạy về nghiệp, nhân quả và nhân duyên giúp chúng ta hiểu rằng mỗi một tác ý, lời nói hay hành động của chúng ta đều sẽ dẫn đến một kết quả nào đó. Vì vậy, cần cố gắng tu tập để điều chỉnh thân, khẩu, ý của mình, hướng tới các pháp thiện. Có 2 điểm về nghiệp quan trọng mà lý giải của bà Yến và thầy Thích Trúc Thái Minh là sai lầm:

  • Một là cho rằng những việc ác ở quá khứ đã gây ra khổ đau kiếp này một cách chắc chắn và cho rằng đó chính là 1 việc ác cụ thể nào đó. Điều này vô lý, vì nghiệp là bất khả tư nghì (tức là không thể nghĩ bàn) theo cách đơn giản kiểu như 1+1=2 được. Tất cả các lời giảng về nghiệp đều nói rằng khi một nhân đã gieo thì nó sẽ trổ quả, đồng thời cũng khẳng định không thể biết được quả đó sẽ trổ như thế nào, vào lúc nào. Có vô số duyên xảy ra đối với nhân đó và nó khiến cho việc biết chính xác kết quả là điều vô lý.
  • Hai là việc biết chắc chắn kết quả là do một nguyên nhân từ trước là luận thuyết định mệnh luận, tức là khẳng định rằng số phận con người trong kiếp này đã được định sẵn do nghiệp từ các kiếp trước. Điều này là vô lý và là tà thuyết cần phải tránh trong Phật giáo.

Bước 3: Thấy được kiếp trước của một người và thấy được việc làm của người đó trong kiếp trước.

Điều này là đại vọng ngữ (cuồng ngữ) và vô lý. Việc thấy được kiếp trước trong kinh phật không phải không có, nhưng chỉ có ở những người đã chứng đắc và nhập dòng thánh. Thời nay nói rằng mình đã chứng đắc thì quả thật là không thể tin được.

Ở đây có một điểm trong kinh Kim Cương của đại thừa có nói: "A-la-hán có thể nghĩ rằng mình được đạo quả A-la-hán chăng", ý nói rằng "Các lậu đã hết không còn phiền não gọi là A-la-hán. A-la-hán vĩnh viễn hết phiền não. Đối với vật gì cũng không tranh chấp. Nếu có ý nghĩ đắc quả tức còn tâm tranh chấp." (còn có các câu nói tương tự với các bậc thánh khác, không chỉ A-la-hán). Như vậy, có thể thấy rằng, một khi đã chứng đắc, nhập vào dòng thánh thì không còn tranh chấp và ý nghĩ đắc quả. Nói chi là đến chuyện nhận rằng mình như vậy và làm phép thấy được kiếp trước.

Nói về làm phép, trong các kinh cũng kể chuyện về phép của các bậc thánh như ông Mục Kiền Liên. Tuy nghiên, các phép đó cũng không phải là những mục đích của sự tu hành. Nó có được do các duyên mà thôi, không lạm dụng nó để làm gì cả. Vì thế, trong các kinh, Đức Phật không hề xiển dương các phép thuật của mình hay của các bậc thánh tăng, mà chỉ xiển dương giáo lý.

Lại nói về phép thuật, suy nghĩ tận cùng thì đó là những khả năng mà người thường không làm được. Nhưng đó cũng không phải là điều gì to tát mà ham. Hồi mình nghe Sư cô Hương Thiền giảng, mình mới thấm. Ví như ta là con người, ta không thể chạy nhanh 60km/h như con báo được. Vậy thì việc chạy nhanh 60km/h đối với ta cũng như 1 phép màu, mặc dù khi nói về con báo, ta chẳng có ham hố muốn trở thành nó. Hay như nếu 1 con vật như con chó biết suy nghĩ, thì khi nó nhìn 1 con người, chắc nó cũng thấy là con người có vô số phép thuật (như biết lái cỗ máy sắt thép to đùng, biết tạo ra bao nhiêu thứ khủng khiếp, ...). Cũng như vậy, việc có được thiên nhĩ thông, thiên nhãn thông hay các phép lạ khác cũng thế, đó chỉ là đơn thuần một việc mà ta không có thôi. Không có gì là ghê gớm và khởi tâm tham ái với những việc này.

Bước 5: Các chúng sinh khi chết hóa thành vong.

Mình thì chưa hoàn toàn tin vào điều này lắm. Mình có đọc đâu đó là khi mới khởi đầu, Đức Phật giảng về các cõi tái sinh thì không có cõi ngạ quỷ, về sau mới được thêm. Nhưng không truy được nguồn gốc nên tạm gác lại.

Trong các kinh sách thì có khẳng định về sự tồn tại của cõi ngạ quỷ, là nơi trú ngụ của các vong linh. Điều này không sai.

Bước 6: Các vong quay trở lại "ám" người hiện tại.

Mình thấy điều này vô lý, nực cười. Chẳng có luận thuyết nào, lời dạy nào trong kinh sách mà Đức Phật nói về điều này cả. Mình đọc các kinh Phật giáo nguyên thủy thì không biết một dòng kinh nào có điều này.

Ngoài ra, theo như 1 lời tranh luận mà mình đọc trên mạng có trích dẫn về 1 câu chuyện có vong linh theo người, và Đức Phật đã hóa giải chuyện đó. Ở đây cần nhận rõ 1 số điểm:

  • Thứ nhất là các kinh sách của Phật giáo đại thừa như kinh đó hay kinh thuyết về Mục Kiền Liên cứu mẹ, đều là các kinh được sáng tác sau này, do người đời sau viết chứ không phải Đức Phật giảng. Các kinh này được viết với mục đích răn dạy người đời, vì thế chỉ nên dùng nó với ý nghĩa hướng đạo thôi. Nó không giảng giải chân lý theo đúng Pháp. Ở nhà mình còn có 2 cuốn sách tương tự như vậy viết về các chuyện nhân quả kiếp trước - kiếp này (y hệt như vụ rùm beng này), và mình thấy chỉ nên tiếp nhận nó ở mức độ răn dạy con người đừng làm điều ác. Vậy thôi, đừng coi nó là chân lý mà vướng vào các lý giải sai lầm về nghiệp và quả báo (như đã nói ở bước 2).
  • Thứ hai là trong chính kinh được trích dẫn thì có các yếu tố sau để hóa giải:
    • Người hóa giải ở đây là Đức Phật, là người đã toàn giác
    • Đức Phật hóa giải bằng việc thuyết pháp để vong linh đó hiểu đạo (nhấn mạnh là thuyết pháp chứ không phải làm việc thiện)
    • Đã hội tụ đủ duyên lành với vong linh đó, để sau khi vong linh đó được nghe pháp, liền giác ngộ và nhập dòng thánh. Nhấn mạnh là thánh chứ không phải là người thường. Như vậy phải biết rằng việc đó cần những điều kiện khó khăn tới dường nào. Ngày nay người giác ngộ nhập dòng thánh không có để mà thuyết pháp, nói chi tới bậc toàn giác. Người nghe mà được chánh pháp rồi giác ngộ cũng nhập dòng thánh thì lại càng không.

Bước 7: Hóa giải bằng cách làm việc thiện.

Như trình bày ở bước 6, việc hóa giải với vong linh được trích dẫn là do Đức Phật thuyết pháp để vong linh đó hiểu được chân lý và giác ngộ, chứ không phải bằng cách làm việc thiện.

Ở đây nói thêm về việc làm việc thiện và hồi hướng tới vong linh thì mình nghe Sư cô Hương Thiền giảng là có (nhưng không với ý nghĩa hóa giải nhé - mình chỉ trình bày để hiểu hơn về việc hồi hướng phước đức). Ý là khi mình làm việc thiện, là có tạo phước, và việc hồi hướng là việc chia phước đó cho những người đã quá vãng hay trong hiện tại. Những người đã quá vãng ở cõi ngạ quỷ hay cõi trời đều có thể hưởng được phước báu này (và hiển nhiên họ không hưởng được các thứ như xôi gà, hoa trái, tiền vàng mã, ...), và nhờ có phước báu mà đời sống của họ được tốt đẹp hơn. Chỉ có vậy thôi, chứ việc làm điều thiện và hồi hướng chẳng có ý nghĩa gì trong việc hóa giải oan gia cả.

Bước 8: Việc thiện là cúng dường và làm công quả.

Việc này chẳng có gì sai. Cúng dường chư Tăng là việc rất tốt, nên làm. Làm công quả cho nhà chùa cũng là việc tốt nên làm.

Miễn là khi làm cần phải xuất phát từ chân tâm và nếu như có tâm không mong cầu thì việc mới viên mãn. Trong vụ này, tuy người ta luận thuyết là cúng dường đều do tự nguyện, nhưng rõ ràng là sau khi giảng giải về các vong linh "ám" thì đã gieo vào người ta hạt giống của sự sợ hãi rồi. Vì thế, việc cúng dường trong trường hợp này không hợp với Phật pháp. Và việc gieo vào sự sợ hãi là đi ngược lại giáo lý của Đức Phật. Trong giáo lý, Đức Phật giảng giải về pháp bố thí, trong đó có tài thí, pháp thí và vô úy thí (tức là giúp người không sợ hãi).

Bước 9: Cúng dường theo mức tiền.

Việc này thực sự vô lý, phẫn nộ và còn phạm pháp nữa. Chẳng thể có lời lý giải, biện luận nào cho việc này cả.

Tổng kết

Tổng kết lại 9 bước như sau:

  1. Một người nói lên những đau khổ mà họ đang gánh chịu --> OK.
  2. Bà Yến và thầy Thích Trúc Thái Minh nói rằng họ chịu đau khổ như vậy là do nghiệp của họ ở các kiếp trước --> vô lý, sai lầm.
  3. Họ nói rằng có thể nhìn thấy các kiếp trước của người đó --> vọng ngữ, sai lầm.
  4. Nhờ vào thấy kiếp trước, họ thấy rằng người đó đã gây đau khổ cho một hoặc một vài chúng sinh khác --> vọng ngữ, sai lầm.
  5. Các chúng sinh này sau khi chết hóa thành vong --> OK.
  6. Các vong này quay trở lại "ám" người hiện tại --> vô lý.
  7. Để hóa giải việc đó, cần phải làm việc thiện --> việc thiện thì đúng, hóa giải là sai.
  8. Việc thiện họ nói cần làm là cúng dường chùa và làm công quả --> cúng dường thì đúng, gieo rắc sự sợ hãi là sai.
  9. Việc cúng dường chùa có đặt sẵn các mức tiền để cúng dường --> vô lý, phạm pháp.

Như thế, có thể thấy rằng việc hóa giải oan gia trái chủ ở chùa Ba Vàng là việc làm sai trái, cả với chánh pháp và luật pháp. Những việc này cần phải chấm dứt ngay và mọi người nên hướng về những chân lý đúng đắn của Phật pháp, chịu khó học hỏi và thực tập.

Một vài ghi chú thêm

Có tranh luận nói rằng việc làm này có nhiều người đã chữa được bệnh, vậy thì nó phải đúng chứ?

Trước tiên, cần nhấn mạnh lại là từ phân tích ở trên, việc làm này là trái với đạo Phật. Và khi đã tách nó ra khỏi Phật pháp, thì nó giống như các hoạt động mê tín dị đoan ở trong dân gian như coi bói, xem ngày, lên đồng, ... Ta hoàn toàn có thể đặt câu hỏi là "đi coi bói thấy nhiều người nói là đúng với họ, vậy thì coi bói phải đúng chứ?", hoặc là "có nhiều người xem ngày thấy đúng, vậy nó phải đúng chứ", hoặc là "nhiều người bảo lên đồng có tác dụng, vậy nó cũng phải đúng chứ".

Khi ngẫm như vậy, ta thấy rằng hiển nhiên đây là các hoạt động mê tín dị đoan. Và chính Đức Phật cũng đã nói rõ ràng rằng đây là "nghệ thuật thấp kém" và khuyên Phật tử tránh xa.

Hơn nữa, khi nói về chuyện "đúng" thì nó giống như một thủ thuật tâm lý hơn là sự thật. Kiểu như trí óc ta luôn có xu hướng tìm những lý lẽ để giải thích, biện minh cho những gì ta nghĩ là đúng. Vì thế, nếu gặp các hiện tượng tâm linh mà không giải thích được, lại có xu hướng tin, thì sẽ rất dễ dàng nói là đúng. Những điều này vốn không có cơ sở vững chắc và không thể lấy ra làm lý lẽ biện giải được.

Tham khảo từ Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam (thiền phái của thầy Thích Trúc Thái Minh)

Link bài viết gốc

Trong bài này có 1 vài điểm quan trọng nên ghi chú ra:

  • Khẳng định lại nghiệp là bất khả tư nghì, tức là không thể nghĩ bàn được. Và không thể dùng một chữ nghiệp để giải thích tất cả các loại nguyên nhân khổ đau của con người như một lời giải vạn năng và từ đó phản lại các ý nghĩa nhân quyền, nhân văn và pháp luật được.
  • Khẳng định "nghiệp lực bất khả cứu". Đức Phật Thích Ca muốn cứu dòng họ Thích Ca thoát khỏi họa diệt chủng bởi Lưu Ly Vương và đã cố gắng đi khuyên giải 3 lần mà rốt cuộc có cứu được đâu. Đây là câu chuyện lịch sử, có thể thực chứng và có ý nghĩa rõ rệt. Từ câu chuyện này có thể thấy nghiệp đã tạo thì chắc chắn sẽ gây ra quả, dù cho có là Đức Phật cũng không thay đổi được. Từ đó khẳng định thêm các câu chuyện mà trong kinh Đại thừa nói về hóa giải thực ra là mang ý nghĩa răn dạy hơn là sự thật (như mình đã nói ở trên).