Ngũ uẩn

Ghi chép lại để khỏi quên. Nhiều lúc mình không hiểu được chính xác các khái niệm này và bị rối. Một khi đã hiểu tường minh thì mọi thứ sẽ sáng tỏ hơn rất nhiều.

Update: sau khi viết bài này, mình nghĩ mình đã hiểu được gì đó, nhưng khi đọc thêm thì lại thấy kiến thức quá nông cạn, vì thế bài này sẽ được update lại để trình bày vấn đề rõ ràng hơn.

Ngũ uẩn dùng để chỉ 5 nhóm cấu thành nên con người. Uẩn có nghĩa là nhóm.

Tiểu kinh Phương Quảng (kinh số 44 Trung Bộ Kinh) có nói:

- Thưa Ni sư, tự thân, tự thân, (Sakkaya), được gọi là như vậy. Thưa Ni sư, Thế Tôn gọi tự thân là như thế nào?

- Hiền giả Visakha, Thế Tôn gọi năm thủ uẩn là tự thân, tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn và thức thủ uẩn. Hiền giả Visakha, năm thủ uẩn này, Thế Tôn gọi là tự thân.

Có nghĩa là tự thân chúng ta được cấu thành từ 5 uẩn này. Ngoài ra không có gì khác. Ở đây có dùng chữ thủ, có nghĩa là nắm giữ, ý nói là nắm giữ, bám víu vào 5 uẩn này và coi nó là tự ngã.

Có nơi nói ngũ ấm, ấm có nghĩa là ngăn che, không cho ta thấy được sự thật về thân và tâm của chúng ta.

Khi tìm hiểu về ngũ uẩn thì mình thấy để hiểu rõ ngũ uẩn, cần hiểu nhiều về các tâm vương, tâm sở (thuộc về Duy thức học). Hiểu rõ những điều này thì giải nghĩa các uẩn mới không rối và hợp lý.

Ngũ uẩn gồm các nhóm sau:

Sắc uẩn

Sắc uẩn là nhóm các yếu tố vật chất, là phần cơ thể vật chất này của ta. Gọi đơn giản là thân thể.

Thân thể được cấu tạo bởi 4 yếu tố: yếu tố vững chắc (đất), yếu tố lỏng (nước), yếu tố lưu chuyển (gió), yếu tố nóng ấm (lửa). Để hiểu rõ các 4 yếu tố này, xem thêm tại đây.

Sắc thường hay đi với danh. Để hiểu rõ về cặp từ này, trong kinh Mi Tiên vấn đáp câu 23, có nói về danh sắc như sau:

- Đại đức đã nói đến danh sắc, vậy cái gì là danh, cái gì là sắc?

- Thưa, phàm vật gì mắt thấy được, sờ nắm được, xúc chạm được, cái ấy được gọi là sắc pháp; cái gì có tính trừu tượng như tâm vương, tâm sở… thuộc ý niệm, tư tưởng… thì gọi là danh pháp.

Các tâm vương, tâm sở cùng sinh khi 6 căn tiếp xúc 6 trần

Các uẩn còn lại là thọ, tưởng, hành, thức là thì thức là tâm vương, thọ, tưởng, hành là các tâm sở.

Trong kinh Mi Tiên vấn đáp câu 30 - tự ngã trong thân, có nói:

- Tâu đại vương! Con mắt tiếp xúc với sắc nhưng chưa chắc con mắt ấy biết rõ sắc ấy là xanh, đỏ, trắng, vàng đâu, nếu không có nhãn thức. Và nhãn thức ấy cũng không phải là một tự ngã, một chủ thể. Nhãn thức sanh lên khi căn xúc với trần, nhưng nó không phải sanh khởi một mình, nó có những tâm sở đồng sanh khác, gọi là biến hành tâm sở: xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư, nhất tâm, mạng căn.

- xúc là xúc chạm trần cảnh,

- tác ý là khởi ý đến trần cảnh,

- thọ là cảm giác,

- tưởng là tri giác, nhận biết,

- tư là tư tác do tham sân hoặc bất động,

- nhất tâm làm cho các tâm sở được liên tục

- mạng căn duy trì mạng sống của một tiến trình tâm.

Và nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức cũng được hiểu như thế. Tất cả căn, trần, thức, và những tâm sở đồng sanh ấy chúng tương quan tương duyên với nhau.

Thọ uẩn

Thọ uẩn là cảm giác, phát sinh khi lục căn tiếp xúc với lục trần.

Ví dụ: khi có vật chạm vào người thì sẽ thấy cảm giác nóng hay lạnh. Đó là cảm thọ được sinh ra khi có sự tiếp xúc của vật và thân.

Khi mắt gặp cảnh, tai gặp âm thanh, mũi gặp mùi hương, lưỡi gặp vị và đặc biệt là ý gặp pháp thì đều phát sinh cảm thọ.

Ví dụ: khi nhìn 1 cô gái đẹp thì sinh ra hảo cảm (cảm thọ dễ chịu), khi nghe 1 âm thanh to thì sinh ra cảm thọ chói tai, khi ngửi thấy mùi thì có cảm thọ thơm hay thối, ăn quả ớt thì thấy cảm thọ cay, nghe bài giảng hay thì sinh ra cảm giác thích thú, …

Cảm thọ được chia ra làm cảm thọ dễ chịu (lạc thọ), khó chịu (khổ thọ) và trung tính (thọ vô ký). Ở đây chỉ đơn giản là khi căn tiếp xúc với trần gây nên cảm giác dễ chịu, khó chịu hay trung tính thôi, chưa có sự phán xét (tác ý - hành uẩn) là yêu thích hay ghét bỏ nó. Sự yêu thích hay ghét bỏ là một hành uẩn (tác ý) và là nguyên nhân gây ra nghiệp.

VD: khi nghe 1 bản nhạc trầm, nhẹ nhàng, ta sinh ra cảm giác trầm lắng (như đi nghe nhạc Trịnh vậy). Cảm giác đó là một cảm thọ dễ chịu (lạc thọ). Lúc này ta chưa phát sinh ra các ý niệm về thích nhạc đó hay không. Nó chỉ đơn giản là nhạc nhẹ nhàng sẽ tác động lên tâm sinh lý của ta, và khiến ta cảm thấy dễ chịu. Hoàn toàn là tâm sinh lý.

VD khác: khi nghe 1 câu chuyện buồn, thì trong lòng ta tự nhiên sinh ra 1 cảm giác buồn theo. Đây là phản ứng tâm sinh lý bình thường của con người. Và cảm giác đó là cảm giác khó chịu (khổ thọ).

Điểm quan trọng cần nhớ là thọ thì không ngăn được. Tức là nó phát sinh không phải do suy nghĩ, ý chí của ta (hành uẩn), mà phát sinh 1 cách tự nhiên.

Ngoài các cảm thọ trên thân (do 5 căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân tiếp xúc với 5 trần) còn có các cảm thọ trên tâm (do ý căn tiếp xúc với pháp trần).

Ví dụ: khi nghĩ về đứa con đáng yêu của mình, ta cảm thấy ấm áp, hạnh phúc (lạc thọ), khi nghĩ về 1 kẻ đã từng gây hại cho ta, ta cảm thấy uất ức, khó chịu (khổ thọ).

Một số nơi có nói thọ bao gồm cả cảm giác và cảm xúc. Khi mô tả các cảm giác vui vẻ, hạnh phúc, thường thì dùng từ cảm giác hay cảm xúc đều được. Xem thêm trên Wikipedia về định nghĩa cảm giáccảm xúc. Trong đó các trạng thái yêu, thích, ghét, … đều được dùng cho cả hai.

Để hiểu hơn về thọ, xin trích 1 đoạn trong cuốn Giảng kinh Vô ngã tướng:

Trong lúc trời nóng nực, ta cảm nghe thích thú khi có ngọn gió mát thoáng qua, hoặc khi lau mặt, rửa mình với nước mát. Lúc trời lạnh lẽo, nằm trên giường nệm đấp mền bông thì nghe ấm áp dễ chịu. Sau khi ngồi hay đứng một thời gian lâu ta duỗi tay, duỗi chân ra hoặc thay đổi tư thế, làm giảm bớt tình trạng căng thẳng của thân thì cảm nghe thoải mái dễ chịu, tiện nghi.

Những cảm thọ phát sanh khi xúc chạm với những đối tượng khó chịu đựng như trời nóng nực, tay chân mệt mỏi, khí hậu lạnh lẽo, ngứa ngáy trong cơ thể, được xem là dukkha vedanā, thọ khổ.

Tâm cũng có thọ lạc và thọ khổ. Khi nghĩ đến những đối tượng thích thú, ta cảm nghe hoan hỷ, hạnh phúc, sukha vedanā, thọ lạc; nghĩ đến những chuyện làm ngã lòng, nhàm chán, thất vọng, buồn khổ, sầu muộn, phiền não, lo âu v.v… làm khởi sanh dukkha vedanā, thọ khổ. Khi sống bình thường không có chuyện gì xảy ra thì tâm ta bình thản, không-vui-không-buồn. Đó là upekkhā vedanā, thọ vô ký, trung tính – không lạc, không khổ.

Tưởng uẩn

Kinh Mi Tiên vấn đáp câu 34 có nói:

- Vậy thì Tưởng tâm sở? Đức vua hỏi.

- Là ghi nhận, chụp bắt cái tướng tổng quát của vật, ấy là Tưởng, tâu đại vương .

- Xin cho ví dụ.

- Ví như đại vương có một vị quan giữ kho siêng năng và cần mẫn trong bổn phận của mình. Tất cả những tài sản quý giá, ngọc ngà, châu báu… y đều nắm vững số lượng một cách tổng quát… chính xác, rõ ràng và không bao giờ nhầm lẫn. Nhận biết, chụp bắt, ghi nhận cái tổng quát ấy là chức năng của Tưởng, tức là tri giác đấy, tâu đại vương!

Khi ta nhìn 1 vật thì trong đầu ta chụp được cái tướng tổng quát của vật ấy, rồi tái hiện lại hình ảnh đó trong đầu, sau đó lưu lại. Đó chính là tưởng.

Vì lẽ đó, tưởng thường được coi là ảo cảnh.

Tưởng uẩn là sự tri giác, là sự nhận biết có phân biệt và lưu giữ, hồi tưởng.

Tưởng uẩn có tác dụng ghi nhớ và giúp ta phân biệt được đây là vật A, đây là vật B hay giúp ta biết được ta đã gặp vật A ở đâu. Trí nhớ và khả năng nhớ lại, hồi tưởng là công năng của tưởng.

VD nhìn 1 vật ta biết đó là bông hoa, vì tưởng uẩn đã lưu hình ảnh bông hoa, khi gặp lại, sẽ đem ra so sánh để nhận biết nó và phân biệt với các vật khác.

VD khi ta đăng ăn cơm, ta nhớ lại 1 kỷ niệm cũ, thì trí nhớ đó chính là tưởng.

Tưởng có chức năng tàng trữ và hồi nhớ lại.

Nếu ta gặp 1 vật mới lạ lần đầu tiên, ta hoàn toàn không có ý niệm gì về vật đó thì tưởng uẩn chỉ làm nhiệm vụ lưu giữ hình ảnh về vật đó. Để lần sau gặp lại thì ta biết đó chính là vật mà ta đã gặp.

Tham khảo thêm:

Chữ tri giác hay tưởng có nghĩa là: sự thấy, sự nhận ra (ôn lại quá khứ nhận ra đối tượng). Khi thấy một hình sắc, tri giác về sự thấy khởi sinh như sau: “Đây là một con người, đây là một người đàn bà (hay đàn ông), dáng vẻ như vầy, thời gian là vào thời điểm đó, địa điểm là địa điểm đó…”

Khi nghe một âm thanh tri giác cũng khởi sanh tương tự như vậy. Khi một người nhớ lại đối tượng theo cách này thì nhóm tri giác (hay tưởng uẩn) của họ giải thích sai lầm rằng: Đây là một thực thể con người. Sự giải thích sai lầm này khởi sinh do tham ái, dính mắc vào tưởng uẩn. Đức Phật ví tưởng hay tri giác như ảo ảnh, một hiện tượng không thật nhưng hiện ra giống như thật. Như thấy ảnh ảo nước trên sa mạc, chúng ta tưởng có một ốc đảo hay vũng nước nhỏ trên sa mạc. Khi lái xe trong một ngày nắng, nhìn con đường từ xa như có nước lụt

Hành uẩn

Hành là sự vận hành của tâm, còn gọi là tác ý.

Kinh Mi Tiên vấn đáp câu 35 có nói:

- Tác ý là khởi ý, khởi ý làm việc gì đó cho mình (tự tác) hoặc cho người (tha tác).

Như vậy, Tác ý này chính là nghiệp đấy, tâu đại vương!

Trong các tâm sở, thọ, tưởng không tạo ra nghiệp, còn hành (tác ý) tạo ra nghiệp.

Thức uẩn

Kinh Mi Tiên vấn đáp câu 36 có nói:

- Thức có chức năng thứ nhất là nhận thức, chức năng thứ hai là thu thập kinh nghiệm của lộ trình tâm, tâu đại vương!

- Như người lính đứng canh cổng thành của đại vương. Người ấy thấy rõ những người đến cung điện từ hướng đông, tây, nam, bắc; biết rõ người ra kẻ vào, biết rõ là vua, quan hay dân, nam hay nữ, tâu đại vương. Ví dụ ấy như thế nào thì thức biết rõ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp cũng như thế ấy.

- Ví như người lính canh cổng thành ấy, nhờ thói quen, nhờ kinh nghiệm mà biết rõ những người vào ra, đến đi, kẻ nào gian kẻ nào ngay; biết rõ người nào đáng kính trọng, người nào cần phải nghi ngờ, người nào mình thích và người nào mình ghét v.v… Các cảm giác (thọ), tri giác (tưởng) tham sân (hành) ở trong các tiến trình của tâm sở ấy; Thức ghi nhận, thu thập, lưu giữ kinh nghiệm cũng y như thế, tâu đại vương!

Trong sách Giảng kinh Vô ngã tướng có trình bày cụ thể các tiến trình của thức:

Năm thức, viññāṇas (tức nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức và thân thức), nầy chỉ nhận ra sự thật cùng tột (chân đế), tức chỉ hay biết là có hình thể, âm thanh, mùi, vị, và cảm giác sờ đụng mà không có quan niệm sai lầm là một người, đàn ông hay đàn bà. Nhưng sau đó, quan niệm sai lầm là một người đàn ông hay đàn bà khởi phát vào giai đoạn chấm dứt của tiến trình nhận ra (citta vithī, lộ trình tâm), khi có sự suy tư, với sự khởi sanh của ý thức (māno viññāṇa).

Sư sẽ giải thích tiến trình hay biết, tức thức, trong sự thấy và sự suy tư.

Nếu mắt bắt một hình thể, luồng trôi chảy của chặp tâm bhavaṅga (hộ kiếp) chấm dứt.

Tức khắc theo sau đó liền khởi sanh chặp pañcadvārāvajjana (ngũ môn hướng tâm, tức một trong năm giác quan hướng về đối tượng, trong trường hợp nầy là cakkhudvārāvajjana, nhãn môn hướng tâm).

Tâm hướng về cảm giác thấy, tức khắc sau đó khởi sanh sự thấy (cakkhuviññāṇa), chỉ có sự thấy suông mà không nhận ra là gì. Vào lúc nầy chưa có sự hiểu biết theo ngôn ngữ thông thường là một người đàn ông hay đàn bà.

Khi chặp tâm nầy chấm dứt liền khởi sanh chặp tiếp thọ tâm (sampaṭicchana), tiếp nhận đối tượng được thấy.

Sau khi chặp tâm tiếp thọ nầy chấm dứt liền khởi sanh chặp suy đạc tâm (santīraṇa), xem xét đối tượng được tiếp nhận. Sau đó là giai đoạn quyết định xem đối tượng có thích thú vừa lòng hay không với chặp tâm được gọi là voṭtṭhāpana, xác định tâm.

Khi chặp tâm nầy chấm dứt liền khởi sanh một loạt những chặp tâm có tính cách tích cực gọi là javana, xung lực, nhanh chóng trôi qua trong một luồng bảy chặp.

Với sự chấm dứt của chặp javana cuối cùng chặp đăng ký tâm, tadālambana, liền khởi sanh trong hai chặp.

Sau chặp đăng ký tâm nầy tiến trình thức (hay biết) hoàn tất tròn đủ và tức khắc theo sau đó là những chặp bhavaṅga, trạng thái tiêu cực của tâm, như trong giấc ngủ mê không mộng mị.

Rồi tiến trình hay biết (thức) xuyên qua ý môn, manodvāravithī, khởi sanh do sự suy xét về đối tượng được thấy. Trong tiến trình tâm nầy, đối tượng (tâm linh) chỉ là sự suy tư về sự thấy, không căn cứ trên một khái niệm sai lầm của kinh nghiệm trước.

Khi tiến trình hay biết khởi sanh lần thứ nhì thì đối tượng là khái niệm về hình thể và dáng điệu đã trở thành đối tượng – hình thể và dáng điệu của một người đàn ông hay đàn bà chẳng hạn. Khi tiến trình lặp lại lần thứ ba khái niệm về danh tánh (của người đàn ông hay đàn bà) sẽ là đối tượng. Từ đó trở đi mỗi lần suy tư về những gì được kinh nghiệm trước, đối tượng sẽ luôn luôn là một khái niệm; “Tôi thấy một người đàn ông, tôi thấy một người đàn bà”. Thức trình diễn những trò ảo thuật như thế đó, tráo trở, biến đổi thực tế, thay thế vào đó những khái niệm.

Tóm Lược

1. Trong tiến trình nhãn thức đầu tiên, thức chỉ đăng ký thực tế cùng tột (chân đế) của đối tượng được thấy.

2. Trong vòng suy tư lần thứ nhất về đối tượng được thấy, vẫn còn thức (sự hay biết) của sự vật thực sự được thấy. Khái niệm sai lầm chưa khởi phát. Nếu chuyên cần chú niệm vào giai đoạn nầy khái niệm sai lầm không thể khởi phát và sự hiểu biết sẽ vẫn nằm trong đối tượng chân đế.

3. Trong vòng suy tư thứ nhì, những khái niệm về hình thể và dáng điệu của đối tượng được thấy phát sanh.

4. Trong vòng suy tư lần thứ ba, khái niệm về sự nhận ra đối tượng được thấy phát sanh.

Cùng thế ấy trong tiến trình hay biết âm thanh, mùi, vị, và xúc (tức nhĩ thức, thiệt thức v.v… ) sự hay biết cũng tuần tự biến chuyển từ hay biết thực tại (chân đế) đến khái niệm chế định (tục đế).

# Hỗn tạp Blog